Chính xác là thay hình thức quản lý hộ khẩu và CMND cho phù hợp thời đại

Thông tin bỏ hộ khẩu là chưa chuẩn!!!

Chính phủ đã đồng ý bỏ các thủ tục về sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân trong quản lý dân cư để thống nhất việc quản lý bằng mã số định danh cá nhân. Đúng là tin vui mọi nhà, thế nhưng….

Trao đổi nhanh với báo chí bên hành lang Quốc hội sáng 6-11, Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm nói: “Đơn giản hóa thủ tục hành chính phục vụ nhân dân nhưng chắc chắn phải có quản lý. Bộ sẽ có biện pháp, cách quản lý nhưng về giấy tờ sẽ đơn giản hóa thủ tục. Nhưng không phải bỏ một số giấy tờ là bỏ quản lý, nguyên tắc là thế”.

Trao đổi với báo chí về nội dung này, đại biểu Quốc hội Nguyễn Hữu Cầu (Giám đốc Công an tỉnh Nghệ An) cho hay việc bỏ sổ hộ khẩu là hoàn toàn hợp lý. Quá trình này đã được chuẩn bị chu đáo nhằm giảm bớt thủ tục, giấy tờ cho người dân.

“Cơ sở dữ liệu quốc gia hiện đã được hoàn tất toàn bộ. Giờ đang triển khai chủ trương làm căn cước công dân, hiện Hà Nội đang triển khai việc này. Riêng các tỉnh sau khi có chủ trương của Bộ Công an sẽ đồng loạt triển khai ngay. Hiện trong cơ sở dữ liệu quốc gia đã rất đầy đủ nên khi quyết định bỏ các giấy tờ ấy sẽ không có vấn đề gì” – ông Hữu Cầu nói.

Thứ trưởng Nội vụ Trần Anh Tuấn cho rằng từ sức ép dư luận và các mối quan hệ gửi gắm. Ông cho biết: “Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú trong nước…” và “công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”. Một nguyên tắc bất di bất dịch của nền công vụ là: mọi công dân Việt Nam đều có quyền và được bình đẳng về cơ hội để dự tuyển trở thành công chức phục vụ nhân dân.

Việc đặt thêm điều kiện phải có hộ khẩu trong tuyển dụng công chức không chỉ vi phạm Luật Cán bộ, công chức mà còn hạn chế quyền Hiến định của công dân, vi phạm điều cấm “lạm dụng quy định về hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” tại Luật Cư trú.”

Hộ khẩu: Một xã hội hai tầng lớp

Sẽ là thiếu tính nhân văn khi dùng những biện pháp bắt sử dụng điện nước giá cao, không tạo điều kiện cho con em họ được đối xử công bằng, qua cơ chế hộ khẩu.

Luật Thủ đô sau nhiều lần tranh luận cuối cùng cũng đã được thông qua tại kỳ họp thứ 4 QH khóa XIII.

Trước khi thông qua toàn bộ dự luật kết quả biểu quyết riêng về quản lý dân cư với 346/463 đại biểu tán thành (trên 69%), quan điểm không tán thành được 106 đại biểu thể hiện và không biểu quyết là 11 đại biểu.Đây cũng là nội dung được thông qua với tỷ lệ tán thành thấp nhất trong số các nội dung được đưa ra biểu quyết.

Điều dư luận quan tâm nhất là chuyện hộ khẩu. Đến nay, vẫn chưa thấy tiếng nói chung giữa nhà quản lý và người dân có nhu cầu nhập hộ khẩu.

Hệ thống hộ khẩu hiện nay chỉ tồn tại ở 4 nước: Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên và Việt Nam. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã áp dụng phương thức quản lý theo hộ khẩu từ thập niên 1950.

Một xã hội hai tầng lớp

Các luật lệ xung quanh việc đăng ký hộ khẩu ở Trung Quốc đã được nới lỏng trong ba thập kỷ qua, nhưng vẫn gây cản trở cho hàng triệu người nhập cư khi tiếp cận với các dịch vụ công cộng và chế độ an sinh xã hội. Mọi công dân Trung Quốc phải đăng ký hộ khẩu ở quê, có nghĩa là họ chỉ được phép tiếp cận với các chế độ an sinh, ví dụ dịch vụ y tế hay giáo dục miễn phí, tại địa phương đó.

Hệ thống này không gây ra vấn đề gì cho những người chỉ ở nguyên một chỗ, nhưng lại ảnh hưởng đến hàng triệu lao động di cư của Trung Quốc, những người từ nông thôn ra thành thị kiếm việc làm.

Ở thành phố, lao động nhập cư có thể xin giấy phép cư trú tạm thời và phải gia hạn hàng năm. Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng chính sách này làm gia tăng bất bình đẳng trong xã hội.

Wang Feiling, một chuyên gia chính trị tại học viện ngoại giao Sam Nunn ở Atlanta, Mỹ, tán đồng với ý kiến đó. Ông cho rằng chính sách hộ khẩu đang đẩy Trung Quốc vào tình trạng một xã hội có hai tầng lớp.

Tuy vậy, cải cách chính sách hộ khẩu không hề dễ dàng. Hệ thống này vốn giúp giới chức Trung Quốc theo dõi được luồng di trú của lực lượng lao động. Một số người lo ngại rằng nếu hệ thống này bị xóa bỏ, hàng triệu người nông thôn sẽ đổ ra thành phố một cách không kiểm soát.

So sánh với một số quốc gia đang nổi lên khác như Ấn Độ hay Brazil, các thành phố của Trung Quốc có ít khu ổ chuột hơn.

Hai cách nhìn

Thực ra có hai cách nhìn nhận vấn đề này. “Việc tự do lựa chọn nơi cư trú và làm việc là tốt cho nền kinh tế, nhưng mặt khác cũng sẽ làm nảy sinh những vấn đề xã hội”.

Theo nhận định của các chuyên gia, quyền tự do cư trú gắn liền với quyền tự do đi lại. Đây là hai quyền rất quan trọng cho việc phát triển cá nhân, cũng là tiền đề cho phát triển xã hội.

Chính vì tầm quan trọng của nó mà pháp luật quốc tế cũng như Hiến pháp mọi quốc gia đều ghi nhận và bảo vệ. Điều 13 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948) khẳng định “mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia”.

Quyền tự do đi lại và cư trú không phải là quyền tuyệt đối, nó có thể bị hạn chế. Tuy nhiên để tránh sự tùy tiện của các chính quyền, khoản 3, điều 12, Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự (năm 1966) thì chỉ được hạn chế quyền này khi cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước công nhận.

Hạn chế quyền của số đông

Ở nước ta quyền tự do đi lại và cư trú của công dân được qui định rõ tại điều 68 hiến pháp.

Tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên hay điều tra xã hội chọn mẫu với câu hỏi cái gì gây phiền toái nhất trong việc cư trú, gần như chắc chắn ý kiến của số đông sẽ chỉ ra đó là chế độ “hộ khẩu” hiện hành.

Thật ra hộ khẩu, bản chất của nó chỉ là một loại giấy tờ chứng nhận thực trạng người dân đang cư trú để cơ quan chức năng quản lý.

Xét từ mục đích quản lý của cơ quan chức năng, việc không cho người dân thực tế sinh sống ổn định trên địa bàn đăng ký hộ khẩu đã đi ngược lại mục đích quản lý. Đây là một việc làm, cách hành xử chứa đựng nhiều mâu thuẫn.

Có ý kiến cho rằng vì mục đích bảo đảm an ninh trật tự xã hội nên hạn chế nhập hộ khẩu vào thành phố. Ý kiến này xem ra không ổn. Dù sao người nơi khác đến thành phố cư trú mà không cho đăng ký hộ khẩu thường trú thì họ vẫn có quyền ở, lao động, học tập… bình thường. Vì quyền này đã được Hiến định! Ngược lại rất cần cho đăng ký hộ khẩu để quản lý nhằm bảo đảm an ninh trật tự.

Việc giữ gìn an ninh là bổn phận đương nhiên của nhà nước, không vì năng lực hạn chế của bộ máy hay vì lợi ích của thiểu số mà hạn chế các quyền của số đông.

Luật cũng cho phép, trong những tình huống đặc biệt, an ninh quốc gia bị đe dọa thật sự thì chính quyền được đưa ra những biện pháp đặc biệt tương xứng, tất nhiên các biện pháp đó là nhất thời hay chỉ áp dụng trong ngắn hạn.

Từ góc độ người dân, họ muốn được đăng ký hộ khẩu để sống yên ổn, làm ăn lương thiện, được sống minh bạch như mọi người trong cộng đồng. Trái lại những phần tử có nguy cơ gây bất ổn an ninh trật tự, hay đã từng gây tiền án tiền sự thì không dại gì chường mặt ra đăng ký hộ khẩu.

Cũng có lập luận rằng, cho nhập cư nhiều quá vào thành phố sẽ ảnh hưởng đến phúc lợi vốn có của người dân thành phố.

Ai tha hóa ai?

Thật ra người từ nơi khác đến thành phố là những người năng động, dám đương đầu với thách thức, có chí tiến thủ, một bộ phận chấp nhận làm những việc xã hội có nhu cầu mà dân gốc thành phố không muốn làm… Nói chung họ đóng góp nhiều hơn cái họ được hưởng.

Xét trên bình diện kinh tế, đóng góp của họ góp phần cho tăng trưởng của thành phố.

Công bằng mà nói, luồng người nhập cư vào thành phố mang theo lối sống nông thôn của nông dân không phù hợp lối sống của một đô thị, của thị dân. Điều này không tránh khỏi làm cho thành phố có phần luộm thuộm và họ cũng mang theo cả cái nghèo của họ góp phần làm nhếch nhác thêm thành phố. Nhưng những điều này không đủ sức kéo đô thị xuống mà đô thị sẽ kéo họ lên theo một quy luật cá thể phải thích nghi với môi trường nếu muốn tồn tại.

Trong luồng người nhập cư không tránh khỏi có những kẻ bị mặt trái của thành thị làm tha hoá, lỗi không phải ở họ. Họ không làm tha hoá thành phố mà thành phố đã làm tha hoá họ!

Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá kèm theo đô thị hoá luôn xuất hiện hiện tượng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị, đây là một quy luật.

Sẽ là ngây thơ và ấu trĩ khi cho rằng dùng biện pháp hành chính như hộ khẩu để ngăn cản quy luật này.

Và cũng thật là thiếu tính nhân văn khi dùng những biện pháp bắt sử dụng điện nước giá cao, không tạo điều kiện cho con em họ được hưởng quyền lợi vui chơi học hành như các con em khác và hành xử rất trái pháp luật khi không cho họ thực hiện quyền thiêng liêng sở hữu căn nhà của họ.

Kéo dài tình trạng khó khăn trong nhập hộ khẩu sẽ tạo điều kiện tha hoá một bộ phận quan chức. Nghe đâu muốn có KT3, hộ khẩu thường trú đều có giá của nó!

Đó là những nhu cầu tất yếu mà không biện pháp hành chính nào có thể ngăn cản được. Kinh nghiệm thế giới cho thấy việc sử dụng biện pháp hành chính để hạn chế là không thành công.

Xóa bỏ hộ khẩu, chuyển sang tự do đăng ký cư trú, người dân được tự do cư trú ở bất cứ nơi nào mình muốn, giao cho chính quyền quận huyện quản lý cư trú, sẽ là một hướng mới tích cực để vừa khai thông thị trường lao động, vừa quản lý cư trú được chặt chẽ hơn, vừa tạo điều kiện để ta hội nhập được với thế giới.

Thẻ cư trú cá nhân?

Đã đến lúc phải thay đổi tư duy về hộ khẩu. Nếu cơ quan nhà nước muốn quản lý được người dân của mình, biết họ đang sinh sống ở đâu, làm gì… thì phải thay đổi quan niệm và phương thức đăng ký hộ khẩu.

Có nên chăng ta sử dụng “thẻ cư trú cá nhân” dạng thẻ từ, có đầy đủ các chi tiết cần thiết về nhân thân của người dân, dùng để đăng ký chỗ đang cư trú thường xuyên, tạm trú, tạm vắng, thay cả cho chứng minh thư, dùng phương thức đăng ký tự động hay tại các trạm đăng ký, nối mạng toàn quốc… Trình độ ngày nay hoàn toàn có thể làm được khi sử dụng triệt để công nghệ thông tin.

Điều quan trọng là không thể tránh né trì hoãn mà phải đối mặt với thách thức.

“Siết” nhập cư chỉ là… quản lý hộ khẩu?

Đồng ý với việc hạn chế nhập cư trong dự thảo Luật thủ đô (LTĐ), nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) vẫn lo ngại đặt câu hỏi: biện pháp đưa ra thật sự giúp điều chỉnh chất lượng dân cư Hà Nội hay chỉ là… quản lý hộ khẩu theo giấy tờ?
Trong buổi thảo luận sáng qua 5/11, một bản tổng hợp ý kiến ĐBQH về vấn đề này đã được đưa ra. Theo đó, 6 tổ ĐBQH tán thành phương án 1: Người nhập cư phải có nhà hoặc đã thuê từ 3 năm trở lên; 4 tổ tán thành phương án 2: Bổ sung thêm việc nhà được thuê phải đủ diện tích 5m2/người, và 1 tổ đề nghị viết lại các phương án này cho rõ ràng và chặt chẽ hơn.
Bản ý kiến yêu cầu Bộ Tư pháp phân tích được nguyên nhân của tình trạng quá tải dân số tại Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý hơn, thay vì chỉ có những quy định cứng nhắc.
Dễ có “hôn nhân giả” để nhập cư!
 “2 phương án đưa ra đều không có sức thuyết phục. Trước khi chọn, chúng ta cần trả lời thấu đáo: vì sao môi trường sống chưa tốt, nhưng người dân vẫn thích kéo về Thủ đô?”.  Đặt ra câu hỏi trước Quốc hội, ĐB Phạm Trọng Nhân tự trả lời: “Bởi tính hấp dẫn của Thủ đô. Bởi dù nói gì, Hà Nội vẫn phải cần tới những người dân đang tìm đến”.
Ông Nhân lấy ví dụ về việc hàng loạt chung cư, trung tâm giáo dục, trụ sở công ty… tua tủa mọc lên và cần “khách hàng” để minh họa cho nhận định của mình.
Các phân tích cho thấy: việc “siết” nhập cư tại nội thành, trong khi vẫn “mở” các huyện ngoại thành, bằng rào cản hành chính gần như chỉ có thể giảm lượng người đăng ký thường trú về mặt sổ sách, giấy tờ. Ngược lại, từ việc đối mặt với những bất lợi về việc làm, thu nhập, phúc lợi xã hội… do không có hộ khẩu, số lao động chưa đủ điều kiện sẽ tìm cách “chạy” để có thể được đăng ký.
Thậm chí, theo “phát hiện” của ĐB Hà Huy Thông, điều 2 của dự thảo LTĐ nhắc tới khái niệm nội thành theo nghĩa rộng, trong khi điều 10 lại tự giới hạn “nội thành” trong 4 quận cũ của Hà Nội là Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa và Hai Bà Trưng. Theo ông Thông, với việc mở rộng địa giới, hiện Hà Nội có tới 10 quận nội thành. Và việc “bỏ quên” 6 quận nội thành còn lại vừa vô tình thu hẹp các vấn đề như quy hoạch, chỉnh trang đô thị… chỉ trong một diện tích nhỏ, vừa dễ tạo ra những rắc rối trong việc nhập cư.
“Việc quản lý bằng hộ khẩu từng gây rất nhiều bất cập. Do vậy, khi ban hành Luật Cư trú trước đây, QH đã không áp dụng biện pháp này” – ĐB Nguyễn Thành Tâm cảnh báo.
Đi xa hơn, ĐB Trương Trọng Nghĩa lo ngại:  “Theo cách quản lý này, số người nhập cư do quan hệ huyết thống sẽ thuận lợi hơn so với những trường hợp có nhu cầu chính đáng nhưng lại chưa đủ điều kiện. Dân số nội đô sẽ tăng do quan hệ huyết thống. Những tiêu cực sẽ tăng thêm: hôn nhân có thể thật và cũng có thể giả – bên cạnh những hợp đồng lao động giả, hợp đồng thuê nhà giả… từ những người tìm cách nhập khẩu vào nội đô.
“Bớt lực hấp dẫn vào nội đô”
Khẳng định sự tất yếu của việc tăng dân số tại Hà Nội, nhiều ý kiến đề nghị: phía soạn luật cần chủ động ước lượng được mức dân số Thủ đô trong tương lai để có sự “chuẩn bị” thích hợp, thay vì quá để tâm vào bài toán giảm bớt lượng dân cư tại đây bằng biện pháp hành chính.
Rất nhanh, ĐB Nguyễn Đức Chung (Giám đốc Công an TP Hà Nội) đưa ra các con số: tới tháng 3/2012, toàn thành phố có 7,1 triệu nhân khẩu, trong đó có gần 1 triệu tạm trú. Theo tốc độ trên, tới năm 2020, mức dân số Hà Nội lên tới 13 – 14 triệu người (trong khi theo phê duyệt của Chính phủ, mức dân số Hà Nội vào năm… 2030 chỉ đạt 10 triệu).
Các so sánh được đưa ra tại QH cho thấy: diện tích dành cho đường giao thông tại nội thành Hà Nội chỉ chiếm tỷ lệ 6,2%, nghĩa là bằng 1/4 so với tiêu chuẩn chung của thế giới. Bởi vậy, rất nhiều ĐB đã đề nghị lưu ý tới vấn đề quy hoạch đô thị trong dự thảo LTĐ, kèm theo đó là hệ thống các giải pháp để cân bằng điều kiện sinh hoạt giữa nội thành và ngoại thành.
Ý kiến của ĐB Trương Trọng Nghĩa có thể coi là điển hình: “Chúng ta quy hoạch lại các phân khu chức năng để hướng người dân không tập trung vào nội đô. Chức năng của nội đô trước hết và chủ yếu là chính trị, hành chính quốc gia, là di tích lịch sử văn hóa, tiếp theo đó là các trung tâm thương mại cao cấp, cao ốc, văn phòng cao cấp, du lịch và thương mại, ẩm thực phục vụ du lịch. Chức năng nhà ở là thứ yếu và hạn chế”.
Từ đó, ĐB Trương Trọng Nghĩa phân tích: “Để bảo đảm chức năng hành chính quốc gia, nếu ở nội đô thì phải chịu nhiều chế tài hơn ở ngoài, khó khăn hơn trong xây dựng, sửa chữa nhà cửa, hạn chế gây ô nhiễm, hạn chế xe ô tô, xe máy, siết chặt quản lý lòng, lề đường, hạn chế buôn bán hang rong quà vặt. Ở các khu vệ tinh ngoại thành thì được ưu đãi tiện lợi hơn trong sinh hoạt, học tập, chữa bệnh, buôn bán, từ đó sẽ bớt lực hấp dẫn vào nội đô”.

Chính xác: chỉ thay phương thức quản lý từ thủ công sang quản lý bằng điện tử.

Đây là quyết sách làm nức lòng người dân, vì trên thế giới, số lượng đất nước quản lý công dân và xã hội bằng sổ hộ khẩu chưa đếm đủ trên một bàn tay.
Vào một ngày nào đó của chục năm sau, lục các giấy tờ gia đình, bất ngờ cuốn sổ hộ khẩu (và chứng minh nhân dân) rơi ra. Con cái bạn ngạc nhiên hỏi, cái gì đó bố? Bạn sẽ tủm tỉm cười mà giải thích: đây là những “chứng nhân” thời đại của bố mẹ, tựa như giờ đây giới trẻ ngỡ ngàng với những kỷ vật thuộc về thời bao cấp…
Không cần phải dài dòng, trong chúng ta, ai cũng từng nhiều lần “điêu đứng” liên quan đến cuốn sổ hộ khẩu. Nhất là những người muốn lập thân, lập nghiệp ở các thành phố lớn. Sổ hộ khẩu mỏng tang nhưng sức nặng nghìn cân, là bùa hộ mệnh cho mọi công dân, mọi gia đình, liên quan đến hầu như tất cả các quyền lợi, việc lớn việc bé đều phải cần đến nó.

Tất nhiên, hiểu rõ tầm quan trọng của sổ hộ khẩu, không ít cán bộ công quyền đã nhũng nhiễu. Nói theo ngôn ngữ bình dân, mỗi lần làm các thủ tục liên quan đến hộ khẩu, đăng ký tạm trú, tạm vắng…, nhiều ngườiphải kẹp theo cái phong bì mới nhanh xong chuyện.Cơ chế thế nào đẻ ra thái độ phục vụ dân thế đó. Một chính sách lạc hậu mà người dân bao năm trời phải gánh chịu.
Tôi không tin là một chính sách bất cập như quản lý bằng sổ hộ khẩu, đã tồn tại hơn 60 năm mà các cấp không nhận ra, để đến bây giờ mới gỡ bỏ.Chẳng qua, có muốn làm hay không mà thôi?Nhưng dù sao, muộn cũng hơn không.
Đến đây, chúng ta cùng tự hỏi: liệu có còn những chính sách quản lý hành chínhnào lạc hậu tựa như quản lý sổ hộ khẩu, đang tồn tại và hàng ngày “hành hạ” người dân, làm trì trệ sự phát triển của đất nước?
Chắc chắn là có, thậm chí nhiều.
***
Trong từng giai đoạn cụ thể, việc ban hành chính sách và mức độ cải cách hành chính phải có những chuyển biến phù hợp hoàn cảnh quốc tế và nhu cầu phát triển đất nước.

Ban hành chính sách hành chính đúng đắn đã là khó, nhưng, các bộ phận thực hiện các thủ tục hành chính tốt càng khó hơn, thậm chí quyết định. Ai cũng biết, thủ tục hành chính là phương tiện chuyển tải chính sách, pháp luật của Nhà nước, là cầu nối giữa cơ quan hành chính nhà nước các cấp với người dân. Thủ tục hành chính liên quan không chỉ đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền, mà còn liên quan đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước. Các quyền, nghĩa vụ của công dân có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản, đều phải thông qua thủ tục hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước, các cấp chính quyền quy định, trực tiếp hoặc ủy quyền giải quyết.
Thế nên, ngay từ ngày đầu nhiệm kỳ, Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã cam kết trước toàn dân về một Chính phủ kiến tạo, phục vụ, liêm chính và hành động. Công cuộc cải cách các chính sách lẫn cải cách thủ tục hành chính trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và quyết liệt trong chương trình công tác của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong thời gian qua.
Đấy là những tín hiệu lạc quan bởi sự nghiệp phát triển đất nước trong điều kiện hiện nay gắn liền với sự thay đổi căn bản vai trò Nhà nước và phương thức hoạt động ở mức độ nào của nền hành chính quốc gia.
Việc nào có lợi cho dân, thì nên làm hết sức, đấy mới là chính phủ kiến tạo và phục vụ.

Thế nhưng, sáng ngày 7/11/2017, Bộ Công an tổ chức họp báo về việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư.

Chánh Văn phòng Bộ Công an cho hay: CMND không thể bỏ được…. Chúng ta chỉ thay phương thức quản lý từ thủ công sang quản lý bằng điện tử.

Chánh văn phòng Bộ Công an Thiếu tướng Lương Tam Quang tiếp tục chương trình họp báo

Tướng Vệ cho biết, hiện tại nước ta có 3 loại giấy tờ chứng minh nhân thân gồm: CMND 9 số, CMND 12 số và Căn cước công dân.

Cả 3 loại giấy tờ này đều có giá trị như nhau. Từ ngày 1/1/2016, Luật căn cước công dân có hiệu lực….

Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về nguồn vốn và các Bộ, ngành khẩn trương tập trung, nghiên cứu, trình Chính phủ sớm phê duyệt dự án sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân thì đến ngày 1/1/2010 sẽ đảm bảo được việc mở rộng cấp căn cước công dân trên phạm vi toàn quốc. Khi đó căn cước công dân sẽ dần thay thế CMND 9 số hiện nay.

CMND và Căn cước công dân là giấy tờ tùy thân hết sức quan trọng để chứng minh nhân thân và phục vụ giao dịch công dân.

Một số phiền hà phát sinh khi chuyển từ CMND từ 9 số sang 12 số cũng được Bộ Công an thông tin, trong giao dịch ngân hàng, giao dịch đất đai. “Chúng tôi đã thông báo gửi các cơ quan Nhà nước nhưng vẫn khó khăn. Bộ cũng ra một thông tư mới cắt góc, trả cả CMND cũ cho công dân.

Thông tin bỏ sổ hộ khẩu, CMND là không chính xác.

Liên quan đến thông tin bỏ sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân (CMND), Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát cho hay: Thông tin này không chính xác.

Trong luật quy định CMND là giấy tờ tùy thân của mỗi người. CMND phải làm thủ công. Để ra được CMND khoảng 2-3 tháng. CMND rất dễ làm giả. Hiện có người làm 2-3 số CMND.

Năm 2013 quy định cấp căn cước công dân. Hiện căn cước công dân đã cấp được tại 16 tỉnh, thành phố. Năm 1/1/2020, toàn quốc triển khai cấp căn cước công dân. Luật quy định không nhất thiết phải đổi từ CMND sang căn cước công dân mà vẫn được sử dụng vì có giá trị sử dụng như nhau. “Ai cảm thấy căn cước công dân thuận lợi thì đổi”, Trung tướng Trần Văn Vệ cho biết.

Ngày 14/11 này sẽ triển khai hội nghị toàn quốc của Bộ Công an. Hội nghị nhằm tập huấn cho công an tỉnh, huyện, xã phường và phát bảng kê để xuống từng hộ ký, đối chiếu với dữ liệu cùng với công an phường, thị trấn xác thực, trưởng công an phường ký vào.

Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phấn đấu hoàn thành trong vòng 2 đến 3 năm. Bộ Công an sẽ huy động hàng vạn cán bộ để thực hiện.

“Luật quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là dữ liệu gốc nên thông tin phải thật chính xác. Vừa rồi đã thí điểm tại Hải Phòng. Hiện Hải Phòng đã có 1,8 triệu dân được nhập vào cơ sở dữ liệu”, Trung tướng Trần Văn Vệ thông tin.

Thay đổi hình thức quản lý dân cư từ thủ công sang điện tử

Trung tướng Trần Văn Vệ cho biết: Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư là tổng hợp các dữ liệu về dân cư Việt Nam.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có vị trí vai trò hết sức quan trọng: Thông qua việc tổ chức thu thập thông tin sẽ tạo nên hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, đảm bảo an sinh xã hội, là căn cứ quan trọng để cơ quan Nhà nước nghiên cứu, rút ngắn thời gian, giảm chi phí, thời gian đi lại.

Thông tin được thu thập, cập nhật thường xuyên góp phần quản lý chặt, đấu tranh phòng chống tội phạm,

Bên cạnh đó, nó còn được xây dựng với mục tiêu kết nối, chia sẻ thông tin nhằm thay đổi hình thức quản lý dân cư từ thủ công sang điện tử, theo hướng hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước.

 

Nguồn TuanVietNam, TT&VH